Kết quả một công trình nghiên cứu của Mỹ cho biết việc đi ngủ sớm sẽ giúp trẻ ở độ tuổi thiếu niên chống lại chứng trầm cảm và ám ảnh muốn tự tử.
Công trình nghiên cứu được thực hiện dựa trên các trẻ em ở độ tuổi từ 12-18 này cho thấy những trẻ ngủ sau nửa đêm có biểu hiện trầm cảm cao hơn 24% so với những em đi ngủ trước 22 giờ. Những em ngủ chưa đến năm tiếng mỗi đêm có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn 71% so với những em ngủ tám tiếng. Ước tính có khoảng 80.000 trẻ em và thanh thiếu niên ở Anh bị trầm cảm.

Các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Y tế của trường Đại học Colombia, New York, đã xem xét các dữ liệu thu thập được từ 15.000 thiếu niên trong thời điểm những năm 1990:
- Cứ 15 trường hợp được nghiên cứu thì có một em bị trầm cảm.
- Ngoài ra, tỉ lệ những trẻ có thời gian do bố mẹ quy định là sau nửa đêm thường nghĩ nhiều đến chuyện tự tử cao hơn 20% so với những trẻ đi ngủ trước 22 giờ.
- Những trẻ ngủ dưới năm tiếng mỗi đêm có nguy cơ tìm cách tự tử cao hơn 48% so với những trẻ ngủ tám tiếng. Còn những trẻ thường xuyên ngủ đủ thì mức độ bị trầm cảm ít hơn tới 65%.
- Chứng trầm cảm và ám ảnh tự tử thường xuất hiện cao hơn trong các bé gái, trẻ vị thành niên và những trẻ ít được sự quan tâm của bố mẹ.
Phần lớn bố mẹ của những trẻ em tham gia chương trình nghiên cứu yêu cầu con đi ngủ muộn nhất là 22 giờ. Một phần tư các trường hợp để con đi ngủ từ lúc nửa đêm hoặc muộn hơn nữa. Tính trung bình, các em ngủ 7 tiếng 53 phút mỗi đêm, ít hơn mức khuyến nghị chín tiếng cho lứa tuổi này.
Tiến sĩ James Gangwisch, người đứng đầu công trình nghiên cứu này nói là cho dù có thể các thanh thiếu niên bị trầm cảm thường khó ngủ hơn, nhưng rõ ràng việc cha mẹ định giờ đi ngủ cho con có liên quan tới chứng trầm cảm.
Rõ ràng, việc thiếu ngủ càng làm cho tình trạng trầm cảm trở nên nghiêm trọng hơn. Việc thiếu ngủ có thể ảnh hưởng tới phản ứng của não, làm ảnh hưởng tới khả năng phân tích, phán đoán, tập trung và kiểm soát hành vi.
Theo Vietnamplus
Nguy cơ trầm cảm do dậy thì sớm ở bé gái
Ngày: 08-06-2010
Trái ngược với thông thường, hầu hết những bé gái bắt đầu dậy thì sớm hơn so với các bạn cùng trang lứa từ 1-2 năm sẽ không phải đối mặt với nhiều rắc rối hơn so với bạn bè chúng, theo một nghiên cứu mới đây của các nhà nghiên cứu ĐH Duke (Mỹ).

Tuy nhiên, trầm cảm có thể nhiều hơn ở một mức độ nào đó đối với các bé gái này, theo báo cáo đăng tải trên tạp chí Pssychiatry Mỹ.
Nghiên cứu kéo dài 2 thập kỷ này cho thấy những bé gái dậy thì sớm sẽ có nguy cơ tham gia vào các nhóm hành vi nguy cơ cao như sinh hoạt tình dục, lạm dụng thuốc, tội phạm vị thành niên và xung đột với các nhóm quyền lực… Và những hành vi này được cho là sẽ kéo dài tới khi trưởng thành thực sự.
Nghiên cứu của ĐH Duke là nghiên cứu đầu tiên trên 1 nhóm đối tượng lớn gồm 630 bé gái từ 9-21 tuổi, trong đó có 115 trường hợp dậy thì sớm (tỉ lệ là 1/5).
Kết quả cho thấy: Sự khác biệt giữa dậy thì sớm và đúng thời điểm chỉ là những hành vi nguy cơ sẽ giảm dần ở những cô bé dậy thì sớm trong khi ở những cô bé dậy thì sớm lại tăng lên và nhóm dậy thì sớm có nguy cơ bị trầm cảm cao gấp 3 lần khi là thanh niên (tỉ lệ trầm cảm ở nhóm dậy thì đúng tuổi là 5%, ở nhóm dậy thì sớm là 15%).
Theo tác giả nghiên cứu William Copeland: “Những phát hiện này đã mở ra cơ hội để chúng ta giúp đỡ các bé gái. Chúng ta có thể nhận diện sớm hành vi và mục tiêu của trẻ và từ đó có những can thiệp kịp thời”.
Bệnh trầm cảm gia tăng ở lứa tuổi vị thành niên
Ngày: 16-10-2010
“Trầm cảm là loại bệnh phổ biến, gặp ở nhiều lứa tuổi, đặc biệt tuổi vị thành niên (13-18 tuổi). Đây là lứa tuổi có những thay đổi sâu sắc trong các mối quan hệ xã hội lẫn tính cách, do đó dễ bị tác động”, ThS.BS Lê Công Thiện cho biết.
Vị thành niên, đối tượng dễ bị tác động
Tại phòng Điều trị Chuyên biệt, viện Sức khỏe Tâm thần Bệnh, BV Bạch Mai số bệnh nhân điều trị trầm cảm ở tuổi vị thành niên gia tăng đáng kể, tỷ lệ mắc bệnh ở nam cao hơn nữ.
Chị Tô Thị Dung (Hải Dương), mẹ của bệnh nhân Nguyễn Vũ Huy (18 tuổi) cho biết: “Bình thường em nó rất hay nói, tính tình vui vẻ, chăm chỉ học hành…, từ đợt thi trượt đại học đến nay (tháng 7/2010) nó đâm ra buồn chán, trầm tính hẳn đi, đêm ít ngủ, sụt cân trông thấy. Càng về sau biểu hiện của em nó càng lạ, thấy bất thường tôi đưa con đến viện khám mới biết con bị trầm cảm”.
Không giống Huy, trường hợp của Phạm Quốc Minh (15 tuổi, Hải Phòng) do bố mẹ thường xuyên cãi vã, rồi li hôn, sau đó không may mẹ em qua đời, bố lấy vợ bé. M. sốc quá, buồn chán, ngại nói chuyện. “Đến khi cháu có ý định tự tử gia đình mới biết cháu mắc bệnh tâm thần nên đưa vào viện”, bác của M kể.
Trao đổi với Dân Trí, BS.ThS Lê Công Thiện, Trưởng phòng Điều trị Chuyên biệt, viện Sức khỏe Tâm thần, bệnh viện Bạch Mai, cho biết: “Trầm cảm là loại bệnh phổ biến, gặp ở nhiều lứa tuổi, nhất là tuổi vị thành niên (13-18 tuổi). Đây là lứa tuổi có những thay đổi sâu sắc trong các mối quan hệ xã hội lẫn tính cách, do đó dễ bị tác động. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh trầm cảm: Do áp lực của việc học, do cha mẹ thiếu quan tâm đến con, trẻ bị tổn thương tình cảm (người thân qua đời, quan hệ bố mẹ căng thẳng), hay bố mẹ bị trầm cảm, trẻ bị khiếm khuyết cơ thể, bị miệt thị hoặc bị bỏ rơi…”.
Dấu hiệu nhận biết
Cũng theo BS Lê Công Thiện, bệnh trầm cảm không khó nhận biết nếu người thân chịu khó để ý, quan tâm đến những dấu hiệu bất thường của trẻ. Người bệnh trầm cảm có những biểu hiện đặc trưng như: Buồn chán, ít nói, tuyệt vọng, không quan tâm đến các vấn đề xung quanh, cảm thấy suy sụp, có ý định tự sát (tuỳ từng trường hợp). Khi mắc bệnh này, người bệnh thường xuyên có cảm giác mệt mỏi, kiệt sức, uể oải. ngại nói chuyện.. Một số bệnh nhân mất ngủ, ăn kém ngon miệng…
“Người bệnh luôn có cảm giác mình là người kém cỏi, là gánh nặng cho gia đình, họ muốn trốn tránh bạn bè, người thân không thích giao tiếp hay tham gia các hoạt động cộng đồng…”, BS Thiện cho hay.
Cách phòng bệnh
BS Thiện khuyến cáo, để tránh cho con mình rơi vào những trạng thái tâm lý tiêu cực dẫn đến mắc bệnh này, các bậc cha mẹ cần quan tâm toàn diện đến con cả về vật chất lẫn tinh thần, nhất là vào những giai đoạn con cái dễ bị tổn thơng về tâm lý như khi thi cử căng thẳng, khi trong gia đình có mâu thuẫn. Cần hiểu và biết rõ các mối quan hệ của con, hãy là người bạn thân thiết, chia sẻ với trẻ những khó khăn trong cuộc sống. Tuyệt đối, không xúc phạm con khi trẻ có lỗi, mà nên phân tích, dăn dạy để trẻ hiểu.
Trong trường hợp trẻ mắc bệnh, cần phát hiện sớm và đưa tới các cơ sở chuyên khoa tâm thần để được tư vấn và điều trị. Phát hiện và điều trị bệnh sớm góp phần rất tích cực, nâng cao hiệu quả phục hồi cho người bệnh. Phương pháp điều trị trầm cảm thường là kết hợp giữa việc dùng thuốc chống trầm cảm và liệu pháp tâm lý.
Đọc sách giúp trẻ tránh trầm cảm
Ngày: 27-04-2011
Đọc sách không chỉ giúp các em khám phá thế giới xung quanh mà còn giúp các em tránh được bệnh trầm cảm
Các nhà khoa học đã so sánh sự ảnh hưởng của 6 loại phương tiện thông tin đại chúng với sự phát triển tâm lý của trẻ vị thành niên: vô tuyến và phim, âm nhạc, trò chơi điện tử, internet, báo và các loại sách, tạp chí.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm những trẻ yêu thích đọc sách gặp ít nguy cơ mắc bệnh trầm cảm nhất trong 5 nhóm còn lại.
Nghiên cứu này lại một lần nữa khuyên các vị phụ huynh hãy động viên con em mình đọc sách hàng ngày. Đọc sách không chỉ giúp các em khám phá thế giới xung quanh mà còn giúp các em tránh được bệnh trầm cảm – căn bệnh ngày càng gia tăng ở giới trẻ./.
Trẻ em có bị trầm cảm không?
Ngày: 08-11-2010
Nhiều người nghĩ rằng trẻ em không bị trầm cảm nên phải giật mình khi nghe những thông tin về những vụ tử tử xảy ra ở lứa tuổi học sinh truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng. Theo một nghiên cứu ở Việt Nam, khoảng 10% hành vi tự tử xảy ra trong độ tuổi 10-17. Tự tử là một hành vi có nhiều lý do khác nhau, nhưng đa số các trường hợp (60-80%) tự tử xảy ra trong bối cảnh của tình trạng trầm cảm.
Học hành căng thẳng là một nguyên nhân gây trầm cảm
Thông thường, trẻ em không đủ kiến thức và nhận thức để nhận diện các biểu hiện của mình mang tính chất bệnh lý, và nếu có nhận thức được thì cũng hiếm khi tìm kiếm sự giúp đỡ từ người lớn. Mặt khác, những người thân của trẻ mắc chứng trầm cảm cũng khó khăn trong việc nhận diện các biểu hiện trầm cảm vì những thay đổi tâm lý liên tục và phức tạp của lứa tuổi nhỏ. Những biểu hiện trầm cảm của trẻ em có thể bị nhầm lẫn với các rối loạn hành vi, ứng xử khác của trẻ và thường được giải thích như là những biến đổi tạm thời trong quá trình trưởng thành của trẻ. Những trường hợp trẻ có những thay đổi rõ rệt mới được gia đình hoặc thầy, cô khuyến cáo đưa đi khám bệnh hoặc tư vấn tâm lý.
Biểu hiện
Mặc dù tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm ở trẻ em không khác so với người lớn, nhưng các biểu hiện thay đổi rất nhiều theo bối cảnh thực tế của trẻ. Trẻ em ít khi biểu lộ hoặc than phiền cảm xúc buồn so với người lớn. Trẻ em nhỏ bị trầm cảm có thể giả vờ bị bệnh hay đau bụng, từ chối đi học, đu bám cha mẹ, lo sợ cha mẹ sẽ chết, biếng ăn, chậm lớn. Những trẻ lớn hơn có thể hay giận dỗi, giảm biểu lộ cảm xúc, gặp những trở ngại trong học tập, ý nghĩ tiêu cực, đánh giá thấp bản thân, hay cáu gắt, hành vi gây hấn, bạo lực, có những hành vi nguy cơ cao, suy giảm các quan hệ với bạn bè, gia đình hoặc các hoạt động khác, thay đổi các thói quen sinh hoạt ăn uống (chán ăn) và ngủ (thức khuya, ngủ ngày hoặc mất ngủ), hoặc trẻ hay nói chuyện về cái chết, tự tử hay thế giới bên kia. Không có xét nghiệm sinh học chuyên biệt nào có thể chẩn đoán xác định trầm cảm, mà việc chẩn đoán được thực hiện bởi các thầy thuốc chuyên khoa.
Trầm cảm xảy ra ở khoảng 2 – 3% trẻ em
Con số này cao hơn ở trẻ em lớn hơn (tuy nhiên, chưa có số liệu nghiên cứu chính thức ở trẻ em Việt Nam). Ở trẻ em, trầm cảm có thể bị nhầm lẫn với các rối loạn tâm thần khác thường xảy ra ở trẻ em như: tự kỷ, các rối loạn học tập, rối loạn hành vi. Cần lưu ý rằng trầm cảm ở trẻ em thường là một bệnh nặng, nhưng có thể điều trị khỏi. Tự tử có thể xảy ra ở trẻ dưới 10 tuổi. Trẻ em gái có mưu toan tự tử nhiều hơn trẻ em trai, nhưng trẻ em trai thường thực hiện thành công tự tử nhiều hơn.
Điều trị
Cũng như ở người lớn, trầm cảm ở trẻ em là do nhiều yếu tố nguyên nhân kết hợp gây ra như: sức khỏe toàn thân nói chung, các sang chấn đời sống, tiền sử gia đình, môi trường và các yếu tố sinh học, di truyền. Trầm cảm không phải là một tình trạng tạm thời có thể tự khỏi mà không có điều trị. Điều trị trầm cảm ở trẻ em cũng giống như ở người lớn nghĩa là điều trị tâm lý (liệu pháp nhận thức hành vi) và sử dụng thuốc chống trầm cảm. Việc điều trị đạt hiệu quả tốt hơn khi áp dụng cả hai phương pháp này. Thuốc chống trầm cảm được sử dụng nhiều ở trẻ em là fluoxetine, được Cục quản lý thực phẩm và dược của Mỹ (FDA) phê chuẩn. Trong thực hành lâm sàng, các loại thuốc SSRI khác cũng được các thầy thuốc kê đơn để điều trị trầm cảm. Riêng thuốc paroxetine được FDA khuyến cáo là không nên dùng cho trẻ em, vì làm tăng nguy cơ tự tử bất kể chưa có bằng chứng xác thực về điều này.
Trẻ em chiếm khoảng 50% dân số Việt Nam, nên số lượng trẻ bị bệnh trầm cảm là không nhỏ, lực lượng đội ngũ thầy thuốc chuyên khoa không đủ đáp ứng để thẩm định chẩn đoán cũng như chăm sóc điều trị cho tất cả các em. Vì vậy, cần chú ý việc giáo dục nhận thức cho các trẻ em có biểu nghi ngờ và tranh thủ nâng đỡ tâm lý cho các em từ nguồn lực sẵn có tại chỗ như: thầy cô giáo, các bậc phụ huynh, và các đoàn thể tại địa phương.
BS. LÊ HIẾU
Chứng trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên
Ngày: 16-10-2010
Hầu như ai cũng có lúc cảm thấy buồn chán và cảm giác buồn chán là chuyện bình thường trong cuộc sống. Tuy nhiên, khi một đứa trẻ hoặc một thanh thiếu niên cảm thấy buồn chán quá thường xuyên, quá nhiều, hoặc quá lâu, em có thể mắc một chứng bệnh rối loạn cảm xúc gọi là trầm cảm.
Một số dấu hiệu của chứng trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên
Chứng trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên có thể biểu hiện dưới dạng tâm trạng buồn chán, cáu giận hoặc cực kỳ nhạy cảm. Một số dấu hiệu của bệnh trầm cảm là:
- Thường xuyên cảm thấy tuyệt vọng, vô dụng, có lỗi hoặc tự ti
- Ít quan tâm hơn tới các hoạt động mà trước đây các em đã từng vui thích.
- Thiếu sinh lực và sự nhiệt tình, và thường xuyên cảm thấy chán nản
- Khó tập trung chú ý
- Có những thay đổi đáng kể về khẩu vị hoặc cân nặng
- Xa lánh những người lớn hoặc giao tiếp kém
- Thường xuyên nghĩ tới cái chết, gây tổn hại cho bản thân, hoặc tự tử
- Thường xuyên cảm thấy khó chịu trong cơ thể, thí dụ như đau đầu, nhức mỏi cơ, đau bụng, hoặc mệt mỏi
- Có tâm trạng tức giận, cáu gắt, thù hận hoặc các hành vi nguy hiểm nghiêm trọng hơn
- Bật khóc, la hét, kêu la hoặc cáu giận mà không rõ nguyên nhân
- Thường xuyên nghỉ học hoặc có kết quả học tập kém
- Nghiện rượu và ma túy
Trẻ em và thanh thiếu niên có thể khó nhận biết và mô tả về cảm xúc và cảm giác của các em. Các em có thể vẫn chưa biết cách bộc lộ bản thân bằng từ ngữ. Các em có thể biểu hiện cảm xúc của mình qua hành vi. Đôi khi những người lớn hiểu lầm những hành vi này là hành động không vâng lời hoặc thích thể hiện, nhưng đó có thể là các dấu hiệu của chứng trầm cảm.
Các bệnh về thể chất và tâm thần khác cũng có các triệu chứng giống như các triệu chứng của bệnh trầm cảm. Và cũng có khả năng là một đứa trẻ có thể cùng lúc mắc bệnh trầm cảm và một căn bệnh khác, thí dụ như chứng rối loạn cảm xúc lo âu hoặc các khuyết tật về nhận thức. Do đó, điều quan trọng là em cần được bác sĩ chuyên khoa khám kiểm tra kỹ lưỡng để chẩn đoán chính xác.
Các nguyên nhân gây bệnh trầm cảm
Hiện nay người ta vẫn chưa hiểu rõ được nguyên nhân chính xác gây ra đa số các chứng rối loạn tâm thần. Thông thường, các chứng rối loạn tâm thần phát sinh từ các yếu tố di truyền kết hợp với các yếu tố sinh học khác, và các yếu tố nuôi dưỡng cũng như các yếu tố môi trường khác. Sự ảnh hưởng giữa sinh học và môi trường là rất phức tạp. Bộ não ảnh hưởng tới hành vi, và kinh nghiệm ảnh hưởng tới sự phát triển của bộ não.
Bệnh trầm cảm di truyền trong gia đình, qua đó cho thấy khả năng dễ mắc bệnh về mặt sinh học có thể là do di truyền. Các yếu tố khác, có thể là tâm trạng căng thẳng ở nhà, trường học hoặc sở làm, và các biến cố căng thẳng trong cuộc sống như chấn thương, mất mát, hoặc bệnh mãn tính cũng là các yếu tố chính gây trầm cảm.
Trầm cảm được chữa trị như thế nào?
Bản thân các trẻ em và thanh thiếu niên bị trầm cảm không phải là những người yếu đuối và các em không có khiếm khuyết về tính cách. Cảm giác trầm cảm của các em là rất thật và không thể kỳ vọng vào việc các em chỉ cần “vui vẻ lên.” Trẻ em và thanh thiếu niên bị trầm cảm cần được điều trị và bệnh trầm cảm của các em là có thể chữa khỏi được.
Về vấn đề trị liệu tâm lý, nghiên cứu cho thấy rằng liệu pháp giao tiếp hoặc hành vi nhận thức rất hữu ích cho những người mắc bệnh trầm cảm. Hai liệu pháp này giúp thanh thiếu niên chú trọng tới các mối quan hệ cá nhân gây trở ngại cho các em và các lối suy nghĩ tiêu cực thường liên quan tới bệnh trầm cảm. Các biện pháp điều trị khác có thể là trị liệu tâm lý cho gia đình và trị liệu theo nhóm. Ngày càng có nhiều nghiên cứu về việc sử dụng thuốc để chữa chứng trầm cảm ở trẻ em.
Trẻ vị thành niên dễ bị trầm cảm, vì sao?
Ngày: 16-10-2010
Trầm cảm là một bệnh lý thần kinh – tâm thần khá phổ biến. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi và do nhiều nguyên nhân gây ra. Đối với trẻ vị thành niên, lứa tuổi mà tâm sinh lý đang phát triển mạnh mẽ là những đối tượng rất dễ bị tác động của cảm xúc, môi trường, gia đình và xã hội.
Quan tâm đến những dấu hiệu khác thường ở trẻ
Buồn chán, tuyệt vọng, cảm thấy suy sụp là những đặc điểm tiêu biểu của trầm cảm. Người bệnh không quan tâm thích thú với những thú vui bình thường, mệt mỏi, suy nhược, cảm giác kiệt sức, mọi việc đều vượt quá sức mình. Có những cơn đau nhức như: đau đầu, đau bụng, đau vùng trước tim, đau cơ khớp… (mà không phải do bệnh cơ thể sinh ra). Người bệnh lãnh đạm với người thân, khóc lóc vô cớ, có cảm giác lo lắng, đôi khi có cơn hốt hoảng. Họ tự cho mình là kém cỏi, là kẻ thất bại, là gánh nặng cho gia đình, không còn hứng thú đến lớp, trốn tránh bạn bè và người thân, kết quả học tập sa sút.
Vào buổi sáng tình hình có vẻ tồi tệ hơn, sau khi thức dậy người bệnh không cảm thấy thoải mái dễ chịu mà cảm thấy âm u, nặng nề. Người bệnh có thể chán ăn hoặc ăn nhiều, mất ngủ hoặc khó ngủ, hay thức dậy sớm hoặc ngủ nhiều. Người bệnh có thể sút cân, cũng có thể tăng cân. Ở mức độ trầm cảm nặng, người bệnh luôn bị ám ảnh bởi cái chết (có người rất sợ chết) và họ luôn nghĩ cách để tự sát. Khi bị bệnh nặng ý nghĩ tự sát rất mãnh liệt, nhưng hành vi tự sát ít xảy ra vì hoạt động của họ chậm chạp, khả năng thực hiện kế hoạch tự sát thấp. Vì vậy, một số trường hợp lại xảy ra tự sát khi bệnh có vẻ bắt đầu thuyên giảm do đó chúng ta cần lưu ý quản lý bệnh nhân trong quá trình điều trị.
Các loại trầm cảm hay gặp ở trẻ vị thành niên
Rối loạn trầm cảm thực vật: các rối loạn thực vật rất nổi bật, có khi át cả rối loạn khí sắc, rối loạn cảm xúc. Các cơn rối loạn thực vật đa dạng như cơn vã mồ hôi, cơn đánh trống ngực, cơn đau trước tim hoặc đau không xác định được vị trí, mạch nhanh, khô miệng, táo bón.
Rối loạn trầm cảm nghi bệnh: người bệnh có cảm giác nặng nề vì nghĩ mình bị bệnh cơ thể dễ nhầm với bệnh cơ thể thực sự.
Trầm cảm ẩn hay trầm cảm che đậy: các triệu chứng cơ thể chiếm ưu thế che lấp các triệu chứng trầm cảm. Biểu hiện chính là đau, thường gặp ở ống tiêu hóa, tim, xương, cơ, khớp, tiết niệu, sinh dục… Đau không biệt định cho cơ quan nào và không đáp ứng điều trị cho bệnh cơ thể. Bệnh nhân thường tìm gặp bác sĩ đa khoa, họ không thừa nhận mình bị trầm cảm và đòi hỏi được làm các xét nghiệm và được điều trị bằng các thuốc khác nhau.
Trầm cảm Paranoid: Ngoài triệu chứng trầm cảm, người bệnh còn có các triệu chứng hoang tưởng ảo giác, chúng mất đi khi hết trầm cảm. Nếu hết trầm cảm mà vẫn còn hoang tưởng, ảo giác thì phải nghĩ đến bệnh khác.
Trầm cảm nội sinh, do cơ thể sinh ra giống như một số bệnh nội khoa khác. Có thể trầm cảm đơn cực hay trầm cảm trong rối loạn lưỡng cực.
Trầm cảm theo mùa: ở một số người bị ảnh hưởng sâu sắc bởi sự âm u của mùa đông dẫn đến bị rối loạn cảm xúc theo mùa. Các triệu chứng thường gặp: buồn rầu, mệt mỏi, thiếu tập trung và giảm trí nhớ, thèm ăn đặc biệt là chất ngọt, tăng cân và thèm được ngủ nhiều hơn vào mùa hè.
Trầm cảm phản ứng hay trầm cảm bị kích ứng bởi những yếu tố bên ngoài, như bị phản bội tình yêu, lý tưởng, người thân qua đời, áp lực công việc, học hành, thi cử.
Nguyên nhân trầm cảm của trẻ vị thành niên
Lý do hay gặp là áp lực của học tập như kết quả thi kém, không thi đậu được vào trường như mong muốn, hoàn cảnh gia đình khó khăn… Đa số trẻ muốn thoát khỏi sự bảo hộ của bố mẹ, muốn độc lập nhưng lại mâu thuẫn với khả năng có hạn của mình. Sự quan tâm của bố mẹ bị giảm sút cũng làm trẻ thêm hoang mang. Một số yếu tố ảnh hưởng:
- Tổn thất tình cảm như người thân qua đời, quan hệ bố mẹ căng thẳng, li thân, li hôn, hay bố mẹ mắc trầm cảm, gia đình ít tham gia hoạt động xã hội.
- Lòng tự trọng bị tổn thương: kết quả học không tốt, tướng mạo không như ý, bị miệt thị hoặc bị bỏ rơi.
- Tính cách cô độc, hướng nội, xa lánh mọi người hoặc yêu quá sớm dễ dẫn tới trầm cảm nghiêm trọng, tự sát hoặc giết người.
- Tính công kích: một trẻ vị thành niên mất đi sự tự tin hoặc bị dày vò về tâm hồn sẽ thể hiện tính công kích nhưng không thể hiện được. Khi đó trẻ lại biến những xung đột đó thành trầm cảm, càng muốn công kích trầm cảm càng nặng.
Điều trị và phòng bệnh
Điều trị trầm cảm ở trẻ vị thành niên cần phối hợp thuốc (chống trầm cảm, an thần) với liệu pháp tâm lý và điều trị toàn diện. Cần phân biệt trầm cảm với bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, hay gặp ở người trẻ và cũng có thể có biểu hiện trầm cảm. Vì vậy khi thấy trẻ có biểu hiện trầm cảm, cần đưa trẻ đi khám ở các cơ sở chuyên khoa tâm thần để trẻ được tư vấn và điều trị có hiệu quả.
Cuộc sống ở lứa tuổi vị thành niên có thể ví như đồ thuỷ tinh, đẹp, trong suốt nhưng rất dễ vỡ. Do vậy để tránh cho con mình rơi vào những trạng thái tâm lý tiêu cực, các bậc cha mẹ cần quan tâm đến con trẻ, đặc biệt là về đời sống tinh thần, mối quan hệ bạn bè, chia sẻ với trẻ những khó khăn trong cuộc sống của chúng. Đặc biệt không nên quát mắng, xúc phạm khi trẻ có lỗi hoặc có kết quả học tập kém bạn bè.
PGS.TS. Cao Tiến Đức
Trẻ em dễ trầm cảm khi gia đình gặp biến cố
Ngày: 24-06-2010
Khác với người lớn, khi gặp biến cố, trẻ em dễ rơi vào trạng thái trầm cảm hơn người lớn do các em chưa có khả năng chủ động thích ứng, đối phó với những vấn đề gặp phải.
Trẻ em dễ bị trầm cảm trước những biến cố gia đình.
Trẻ dễ trầm cảm sau biến cố gia đình
Kể từ ngày bà nội mất, bé Diễm, 5 tuổi (phường 7, quận 3, TP.HCM) trở nên ít nói cười, lười ăn, ở lớp bé không còn thích chơi cùng các bạn như trước nữa. Bé lúc nào cũng như thất thần, ngơ ngác, mỗi khi nghe ai nhắc đến nội lại khóc lạc cả giọng đi.
Nhiễm virut HIV từ mẹ, bé Thanh, 6 tuổi (đường Bình Giã, quận Tân Bình) ở với ông bà ngoại. Thường xuyên sốt cao, uống thuốc như cơm bữa khiến bé phải đến bệnh viện thường xuyên.
Trước những câu hỏi của cháu: “Vì sao con phải hay đến bệnh viện, uống thuốc? Vì sao người con nổi đầy nhọt mà các bạn lại không bị”, ông bà vẫn thường trấn an cháu bằng cách nói ngược lại với hiện trạng bệnh tình.
Một lần, người hàng xóm ác ý nói cho bé Thanh biết rõ bệnh tình của mình, từ đó bé trở nên buồn bã, hay cáu gắt vô cớ, suốt ngày thu mình trong phòng.
Theo chuyên viên tâm lý Ngô Xuân Điệp – Phó trưởng Khoa Tâm lý Bệnh viện Nhi đồng 2, TP.HCM, các bé nêu trên đã rơi vào trạng thái tâm lý: rối loạn thích ứng.
Rối loạn thích ứng là phản ứng cảm xúc hoặc hành vi của trẻ trước một số thay đổi lớn, gây căng thẳng thần kinh như người thân mất, cha mẹ ly hôn, bỗng nhận ra những khiếm khuyết trên cơ thể mình… dưới những biểu hiện khác nhau như buồn và thích sống một mình, có thể khóc nhiều, khó ngủ, chán ăn, luôn cảm thấy thất vọng, lo âu hoặc đôi khi có vẻ căng thẳng, cáu gắt, lo lắng,…
Theo ông Điệp, khác với người lớn, khi gặp biến cố, trẻ em dễ rơi vào trạng thái trầm cảm hơn do các em chưa có khả năng chủ động thích ứng, đối phó với những vấn đề gặp phải.
Không nên nói dối trẻ
Bé Khắc Thống, 9 tuổi (quận Bình Tân, TP.HCM) không may mắn bị di truyền từ ông ngoại căn bệnh không có răng. Từ nhỏ đến lớp 2, em vẫn vô tư, vui vẻ như bao đứa trẻ bình thường khác. Nhưng bắt đầu từ khi lên lớp 3, bé Thống bắt đầu có những biểu hiện buồn bã, nhút nhát, sống thu mình.
Chị Hoa, mẹ bé Thống, cho hay, khi con còn nhỏ, chị cũng thường nói dối con bằng những câu như: “Lớn lên, con cũng sẽ có răng như các bạn”, “Hồi nhỏ, mẹ cũng không có răng như con”,…
Tuy nhiên, khi lên lớp 3, thấy mình khác với tất cả bạn bè trong lớp, Khắc Thống thường hay cáu gắt, biểu hiện những thái độ vùng vằng với mẹ.
Theo ông Ngô Xuân Điệp, trong những trường hợp trên, các bậc phụ huynh không nên nói dối con mà hãy nói sự thật một cách khéo léo. Chẳng hạn, khi trong gia đình có bà nội mất, hãy động viên trẻ: “Bà đi rất xa, không thể về với con được, nhưng bà luôn theo dõi con học hành, vui chơi từng ngày”…
Với trường hợp những đứa trẻ bị nhiễm HIV, người thân nên nói với trẻ những câu như: “Trong con người con có một số con virus và những chú bộ đội tý hon. Những con virus sẽ đánh nhau với các chú bộ đội, khiến càng ngày con càng mệt hơn. Nhưng chỉ cần con uống thuốc và ăn uống đều đặn là sẽ khỏe…”.
“Trẻ con vốn có niềm tin rất lớn vào người lớn, đặc biệt là những người thân trong gia đình. Khi bị trẻ phát hiện ra sự thật, lòng tin đổ vỡ sẽ khiến trẻ sẽ bị sốc và dễ có những hành động dại dột” – Ông Điệp giải thích.
Bà Phạm Thị Thúy – Giảng viên môn Xã hội học, Phương pháp sư phạm – kĩ năng giao tiếp, Học viện hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh cũng cho rằng, với những trường hợp trên, phụ huynh hãy nói với trẻ tất cả sự thật.
“Trẻ em nhạy cảm nhưng cũng mau quên, khi trẻ đang bị stress, gia đình nên trò chuyện thường xuyên với trẻ, kể những câu chuyện tương tự như hoàn cảnh của trẻ và đưa ra những giải pháp, trẻ sẽ thấy bớt bỡ ngỡ. Hoặc nên đưa trẻ đi chơi những nơi trẻ thích như về quê, đi công viên, tắm biển…Đặc biệt, hãy ôm trẻ vào lòng thật nhiều, sự tiếp xúc xúc giác sẽ giúp con người đỡ căng thẳng, nhất là trẻ em”.
Chuyên viên tâm lý Ngô Xuân Điệp khuyến cáo: nếu trẻ có những biểu hiện trầm cảm quá 6 tháng, các bậc phụ huynh nên đưa con đến các cơ sở y tế để có những biện pháp điều trị kịp thời.
Các trang web liên quan
http://thuocbietduoc.com.vn/hoi-dap-7-21-1301/benh-tram-cam-va-cach-chua-tri--tram-cam.aspx
http://beta.giupban.vn/chi-tiet/917/dau-hieu-va-cach-dieu-tri-benh-tram-cam-o-tre
http://www.phununet.com/WikiPhununet/ChiTietWiKi.aspx?m=0&StoreID=6614
http://drdung.com/dieu-tri/cac-benh-tam-than/49-chung-tram-cam-o-tre-em-va-thanh-thieu-nien.html
http://www.tamlyhocthankinh.com/tr-liu/cac-phuong-phap-tri-lieu-tram-cam




Các ý kiến mới nhất